Trạng nguyên Khương Công Phụ .

Trạng nguyên Khương Công Phụ.

Khương Công Phú (Tiếng Trung: 姜公輔, 731 – 805) Đức Văn (Tiếng Trung: 德文) Thừa tướng nước An Nam dưới thời Đức Tông, người Việt Nam đầu tiên đỗ trạng nguyên và là trường hợp duy nhất trong lịch sử Việt Nam. Tể tướng nhà Đường của Trung Quốc. Mặc dù sinh ra ở Ái Châu nhưng tổ tiên của ông là người Hoa từ Tiên Tử (Cam Túc, Trung Quốc). Cha của Khung Kong Fu chuyển đến huyện Quan Ninh, Ái Châu, vì vậy gia đình ông trở thành người gốc Quan Ninh, và ông là người gốc Hoa Việt Nam.

Lịch sử:

Khung Kong Fu nguyên quán ở Sơn Gừa, xã Ko Hiên, huyện Quan Ninh, phủ Ái Châu, quận Nhật Nam (nay là thôn Tùng Vân, xã Định Tân, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, Bắc Trung Bộ). Theo gia phả của họ Khung ở Thạch Đạt (Hà Nội), ông nội của Khung Kông Phu là Thứ sử Khẳng Tấn Đức người Ái Châu (Thanh Hóa ngày nay). Khẳng Tan Duk sinh ra Khung Van Dinh và làm việc ở vùng Tua Tien Hu, lấy bằng tiến sĩ. Khung Van Din có hai anh em là Khung Kong Foo và Khung Kong Fook.

Cả hai anh em lớn lên đều đỗ đại khoa trong kỳ thi tuyển nhân tài đời Đường năm Canh Tý 780, một sự kiện chấn động Tràng An đương thời. Đặc biệt, là người đầu tiên dự khoa thi này (trạng nguyên), Khung Kong Fu được Đường Đức Tông lúc bấy giờ đặc ân ban tước hiệu là Tử Lăng. Vì tài giỏi, ông trở thành Hàn lâm viện học sĩ, đồng thời giữ chức Tần, gọi Tào nhập quân, dần dần thăng đến chức Tiến sĩ, rồi Tể tướng (nay gọi là chức Đông Trung Thư, hạ môn) một chương trình hòa bình do vua Đường Huyền Tông sáng lập), trở thành người Việt Nam duy nhất đỗ Trạng nguyên và trở thành Tể tướng Trung Quốc.

Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” kể câu chuyện về việc Khẳng Kong Fu cố gắng can thiệp vào nhà Đường vào năm 784 trong sự kiện tướng Chu Tu nổi dậy. Nguyên văn như sau:

“…(Kương Công Phụ) từng xin giết Chu Tử, Đường hoàng không nghe. Kinh Sư đại loạn không bao lâu, Đường vương ra khỏi cửa Tùng Uyên, Khổng Phu dừng ngựa lại nói: Binh lính, tôi đã hao binh tổn tướng, ngày nào tôi còn giận, xin hãy để tôi mang chúng theo, đừng để kẻ xấu lấy chúng.” Vua Đường nghe vội, trên đường muốn dừng lại ở Phùng Tung để lánh nạn Trung Đạt. Khổng Phúc xen vào. “Đạt tuy là bề tôi đáng tin cậy, nhưng làm quan, kỵ binh của Ngu Du Dung đều là các khúc của Chu Tử dưới trướng. Nếu là muốn thẳng đến Kinh Nguyên bạo loạn, cũng không có kế sách hoàn hảo.” Vua Đường đi Phụng Thiên. Có người báo thử phản bội, xin vua Đường hãy sẵn sàng. Vua Đường nghe lịnh Lữ Kỉ xuống chiếu đóng quân xa thành, bằng lòng đợi Trí đến đón. Bố Công nói. “Vua mà không nghiêm khắc với binh khí của mình, thì làm gì có được uy nghiêm? Bây giờ công thành ít người, mà binh mã đều ở bên ngoài, thần nghĩ bệ hạ rất nguy hiểm.” Vua Đường khen là phải, gọi mọi người vào thành. Quân của Trí đã đến như Kong Fu đã nói. Sau đó, Hoàng đế Tang gọi Fu trở thành bác sĩ của Đảng Cộng sản Trung Quốc, và tổng bí thư của tầng lớp thấp hơn, tham mưu trưởng … “

Về sau, vì trái lệnh vua chôn cất công chúa Đường An quá muộn, trái với ý vua, ông bị giáng xuống làm nhị hoàng tử, đảm nhận công việc dạy dỗ hoàng tử. Năm Trinh Nguyên thứ 8 – 792, ông được cử đến Tuyền Châu cầu giá. Đường Tuấn Tông lên ngôi, phong làm thứ sử Cát Châu. Vì vậy từ một vị quan đầu triều, đến cuối đời ông chỉ làm quan ở một châu. Tuy nhiên, ông đã qua đời trước khi đến nơi nhậm chức.

Em trai của ông, Khung Kong Fook, cũng từng làm thị trưởng phía bắc.

Làm.

– Gia phả dòng họ.

– Dự án Bạch Vân xuân biển Phú Vân.

– Thay đổi ngôn ngữ sách trực tiếp.

“Chiếu Mây Trắng Xuân Hải Phù Vân” Còn lại 318 chữ của Khương Công Phụ, với “không”, “bãi biển”, “tiên”, “ly”, “hai”, “xuân” làm vần, ca ngợi vai trò kết hợp của mây và biển. chủ thể con người. Bài văn tế được một số nhà sử học văn học coi là công trình tiêu biểu của văn học chữ Hán Việt Nam và là bài văn tế còn tồn tại sớm nhất ở Việt Nam.

Khảo và dịch Khương Công Phụ.

Nhiều thư tịch Trung Quốc và Việt Nam đều ghi lại Khẳng Con Phu, trong đó có Cổ Dương Tử, Tân Dương Tử, Song Tử, An Nam chí lược, Đại Việt Sử Ký Tuân Tử, Toàn Đường Văn, và Khung Kông. Trợ lý của người thẩm vấn, chìa khóa của một số tài liệu. , câu đối, hoành phi khác. Đáng chú ý, một bài thẩm vấn do Nhữ Đạm Trai đệ nhất viết trong Khung Không Phụ vào năm Nhâm Thìn, niên hiệu Mẫn Mệnh (1832), đã tiết lộ nhiều tài liệu của nhà Đường liên quan đến Khung Không Phụ mà không tìm thấy sau Công nguyên. tài liệu khác tài liệu tiếng Việt.

Khung Kong Fu xuất hiện vào những năm trước 1975 trong công trình nghiên cứu của giáo sư Bu Kam, một trong những nhà giáo và nhà nghiên cứu Hán Nôm có uy tín ở miền Nam.

Trong khi sưu tầm và biên tập các tác phẩm Hán văn của người Việt trước thế kỷ X, giáo sư Trần Nghĩa đã dịch các tác phẩm của Khẳng Kong Fu, vẫn dựa trên tư liệu của Toàn Đường Văn. Đây là công trình nghiên cứu Khương Công Phụ đặc sắc nhất.

Cống vật.

Cả Trung Quốc và Việt Nam đều nhớ đến Khung Kon Fu. Trên núi Kuu Nhat, ngọn núi mà Khung Kong Fu được cử đi sứ Tuyền Châu, tỉnh Phúc Kiến, sống 14 năm và dựng nhà riêng dưới chân núi, hiện vẫn còn ngôi đền thờ Khẳng Kong. Phúc. sườn phía tây của núi.. Nhân dân còn đặt tên cho đỉnh cao là “Kương tướng phong” để tưởng nhớ nơi Khẳng Kông Phu sẽ ở, trên đỉnh có khắc 3 chữ “Kương tướng phong”. Trên đỉnh núi “Kương tướng phong” là “Khu mộ tướng quân”. Hiện nay, ngôi mộ vẫn còn và thậm chí còn có một phiến đá ghi lại kỳ tích của Khẳng Kong Fu bằng chữ Hán.

Đã đồng ý “Thẩm vấn Kwong Kon Fu” Ở Thanh Hóa có 2 đền thờ Khẳng Kông Phu ở huyện Hoằng Hóa và Yên Định, trong đó hiện còn đền thờ ở thôn Tùng Vân, xã Định Tân, huyện Yên Định, nơi sinh ra Khung Kong Phu. . Tương truyền, ngôi chùa được xây dựng trên ngôi nhà cũ của Khung Kon Fu. Nhiều tư liệu Hán Nôm hiện còn được lưu giữ trong chùa, tiêu biểu nhất là hai tấm bia Cung Tiên bi ký và Khương Tiên bi ký năm Tự Đức thứ 13 (1860) ghi việc trùng tu chùa. Ngoài ra, còn có một hệ thống sắc phong, trong đó điển hình là sắc phong của triều Tự Đức thứ 3 (1850) đã sắc phong cho Khung Kông Phu là Tĩnh Trung Hiền Gia Nam Phương Trực Quang Ý Trung Đàn. Đến nay, ngôi đền đã nhiều lần được trùng tu, tôn tạo để làm nơi thờ tự Tể tướng nước Việt đời Đường. Chùa đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử quốc gia năm 2001. Hàng năm vào ngày 10 tháng 3 âm lịch, chùa long trọng tổ chức lễ dâng hương thu hút du khách thập phương. Con cháu các tộc Việt Hùng trên cả nước hành hương du xuân, tỏ lòng thành kính.

Tham Khảo Thêm:  Câu chuyện: "Bài học của cha tôi"

Related Posts

Bài thơ: CẬU BÉ LOẮT CHOẮT (“The little boy”) của Helen Buckley

CẬU BÉ YÊU(Cậu bé)– Helen Buckley – Em bé đã đi họcVào buổi sángCô giáo nói:“Hôm nay chúng ta sẽ vẽ một bức tranh.”“Tuyệt vời!” Cậu bé…

Giới thiệu sách: Chuyện con mèo dạy hải âu bay của Luis Sepulveda

Bạn đã từng thất hứa trong đời chưa? Chắc chắn có một lần chúng ta bịa ra hàng ngàn lý do để biện minh cho hành động…

Giới thiệu tiểu thuyết Giết con chim nhại (To Kill a Mockingbird) của Harper Lee

Giết con chim nhại ((để giết một chú hề). Thế giới động vật trên không rất thú vị. Chim bồ câu trắng tượng trưng cho ước vọng…

Tình cảm vừα đủ ấm áp, hành động cóchừng mực mới có thể gắn kết lâu dài.

Tình cảm đủ ấm áp, hành động vừa phải có thể tồn tại lâu dài. Làm người không quá khiêm tốn cũng không kiêu ngạo, đều có…

Bài thơ Người đẹp của Lò ngân Sủn

Sắc đẹp – Bếp bạc – Vẻ đẹp ở dạng tuyết cảm thấy ấm áp khi chạm vào Vẻ đẹp trông giống như ngọn lửa mát mẻ…

Truyền thuyết nàng công chúa có trái tim hóa đá

Truyền thuyết về nàng công chúa có trái tim hóa đá Ngày xửa ngày xưa, ở một vương quốc nọ có một nàng công chúa rất xinh…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *